Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh Trung học phổ thông khu vực miền núi tỉnh Vĩnh Phúc
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh Trung học phổ thông khu vực miền núi tỉnh Vĩnh Phúc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh Trung học phổ thông khu vực miền núi tỉnh Vĩnh Phúc
1. LỜI GIỚI THIỆU Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 của Chính phủ đã khẳng định: “Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục vùng khó để đạt được mặt bằng chung, đồng thời tạo điều kiện để các địa phương và cơ sở giáo dục có điều kiện bứt phá nhanh, đi trước một bước đạt trình độ ngang bằng với các nước có nền giáo dục phát triển.” Những chủ trương, đường lối của đảng, chính sách của nhà nước đều quan tâm đến giáo dục và đào tạo coi trọng giáo dục và đào tạo. Ngoài ra ta phải kể đến các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước như: Phạm Khắc Chương - Lý luận quản lý giáo dục đại cương, Giáo trình cho học viên cao học quản lý giáo dục; Phạm Minh Hạc - Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI – NXB chính trị quốc gia Hà Nội 2002; Trần Kiểm - Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục - NXB Đại học sư phạm 2012, Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục - NXB Đại học sư phạm 2010; Đặng Bá Lãm – Quản lý nhà nước về giáo dục - Lý luận và thực tiễn - NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 2005; Phan Trọng Ngọ - Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường – NXB Đại học sư phạm Hà Nội 2005; Phạm Viết Vượng – Giáo dục học – NXB Hà Nội 2008 Đây là những công trình lớn, có giá trị về khoa học quản lý giáo dục, các công trình này đã đem lại những thành tựu lớn lao trong quản lý giáo dục nói chung và quản lý nhà trường nói riêng. Trước mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam các công trình nghiên cứu của những nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu về vấn đề đổi mới nội dung dạy học theo hướng nâng cao hiệu quả, gắn khoa học với thực tiễn, lấy học sinh làm trung tâm hoạt động dạy học. Tuy nhiên những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước chủ yếu tập trung nghiên cứu về hoạt động dạy của giáo viên mà chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về hoạt động học của học sinh thì đó là một thiếu sót. Đặc biệt đối với biện pháp quản lý hoạt động học của học sinh THPT khu vực miền núi tỉnh Vĩnh Phúc thì đây là đề tài hoàn toàn mới. 1 Theo quan điểm hiện nay: Quản lý là những hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát quá trình tiến tới mục tiêu. Theo góc độ chính trị xã hội: Quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức với lao động. Vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù hợp, cơ chế đúng, hợp lý thì xã hội phát triển, cơ chế sai thì xã hội phát triển chậm lại hoặc rối ren. Theo góc độ hành động, Quản lý được hiểu là: Chỉ huy, điều khiển, điều hành hay Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra. Ngoài ra trên thế giới cũng như ở trong nước còn có một số khái niệm về quản lý được nhiều người chấp nhận: Theo F. W. Taylor (1956-1915) người Mỹ dưới góc độ của một nhà kinh tế ông quan niệm: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất.” Theo bách khoa toàn thư Liên Xô, 1977: Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (Xã hội, sinh vật, kỹ thuật) nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình mục đích hoạt động. Theo Harold Konntz: “Quản lý là hoạt động thiết yếu đảm bảo sự nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.” Theo tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu xã hội.” hay “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn nhân lực trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất.” Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình hoạt động.” 3 Từ khái niệm biện pháp nêu trên chúng ta có thể thấy từ biện pháp được sử dụng trong những hoàn cảnh cụ thể và có những ý nghĩa như sau: - Biện pháp xuất hiện khi có một vấn đề cần giải quyết hoặc đã giải quyết nhưng chưa triệt để, chưa đem lại hiệu quả như ta mong muốn. - Biện pháp là căn cứ để đưa ra cách thức tổ chức, hoạt động nhằm thực hiện một vấn đề đặt ra. - Biện pháp là cách thức mà người đề ra và người thực hiện buộc phải tuân theo (tính khả thi). 7.1.3. Học sinh trung học phổ thông Trong hệ thống giáo dục quốc dân của nước ta có chia ra làm bốn bậc: Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục đại học. Cấp THPT là cấp học cao nhất của bậc Giáo dục phổ thông, đây là cấp học mà học sinh dần dần hoàn thiện về thể chất và tính cách. Cấp THPT hiện nay gồm ba lớp từ lớp 10 đến lớp 12 Theo Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học quy định: “tuổi của học sinh vào lớp 10 là 15 tuổi” và “Học sinh là người dân tộc thiểu số, học học sinh khuyết tật, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, học sinh người nước ngoài về nước có thể vào cấp học ở tuổi cao hơn 3 tuổi so với tuổi quy định”. Như vậy đại đa số học sinh THPT là ở trong khoảng từ 15 đến 18 tuổi, cá biệt mới có học sinh lớn hơn độ tuổi nói trên hoặc học sinh đặc biệt được xét vượt lớp thì nhỏ hơn độ tuổi quy định. 7.1.4. Khu vực miền núi Theo quy định của Ủy ban dân tộc và miền núi về khái niệm, tiêu chuẩn của huyện miền núi thì huyện Lập Thạch đủ các tiêu chuẩn của huyện miền núi và đã được Chính phủ công nhận là huyện miền núi. “Huyện miền núi là huyện có 2/3 diện tích đất đai tự nhiên là miền núi. Đại bộ phận đất đai là đồi núi cao dốc, có nơi rất dốc và cao nguyên, địa hình đa dạng phức tạp, có nhiều sông suối tạo thành độ chia cắt lớn, là nơi sinh sống chủ yếu của các dân tộc thiểu số.” tiêu chuẩn của huyện thuộc khu vực miền núi gồm: Hai phần ba diện tích đất đai của đơn vị có độ dốc từ 250 trở lên (là rừng và đất rừng). Kinh tế - xã hội chậm phát triển so với đồng bằng, đất đai sản xuất vừa có ruộng nước (thung lũng bằng, bậc thang) vừa có 5 Trong cuộc sống đời thường con người luôn có quá trình tiếp thu, tích lũy những kinh nghiệm sống. Trên cơ sở đó tạo nên những tri thức tiền khoa học, làm cơ sở tiếp thu những khái niệm khoa học ở trong nhà trường. Đó chính là việc học, là cách học theo phương pháp của cuộc sống thường ngày, giống như con người từ khi sinh ra đến khi chết học ăn, học nói, học gói, học mở. đi một ngày đàng học một sàng khôn. Trên thực tế chỉ có một phương thức đặc thù - phương thức nhà trường mới có khả năng tổ chức để cá nhân tiến hành hoạt động đặc biệt đó là hoạt động học, qua đó hình thành ở cá nhân những tri thức khoa học, năng lực mới phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn và trong tâm lý học sư phạm, hoạt động học là khái niệm chính được dùng để chỉ hoạt động học diễn ra theo phương thức đặc thù, nhằm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo. Từ những khái niệm như trên có thể thấy hoạt động học là quá trình nhận thức, ghi nhớ, tìm tòi, nắm vững và vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Học tập bao gồm việc học và việc tập. Học là quá trình nhận thức, tiếp thu những kiến thức tự nhiên, xã hội. Tập là rèn luyện những kiến thức đã được tiếp thu, có kĩ năng vận dụng những kiến thức tự nhiên, xã hội vào đời sống thực tiễn. Hoạt động học tập của học sinh: Là hoạt động tự giác, chủ động, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức – hoạt động học tập của mình nhằm tiếp thu, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân, qua đó người học thể hiện mình, biến đổi mình để tự làm phong phú những giá trị của mình. Như vậy hoạt động học chính là quá trình người học tự giác chủ động tích cực, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức của bản thân nhằm tiếp thu những tri thức có sẵn, biến những tri thức của nhân loại thành vốn tri thức, hiểu biết của bản thân về thế giới tự nhiên và xã hội, vận dụng tri thức vào đời sống. - Theo thuyết nhận thức Hoạt động học tập là quá trình nhận thức linh hoạt, tính linh hoạt của nhận thức là khả năng người học cấu trúc lại một cách tự nhiên những tri thức của mình bằng nhiều cách khác nhau nhằm đáp ứng nhanh chóng yêu cầu của tình huống đang thay đổi một cách căn bản. 7 Nhận thức qua trao đổi: Để hình thành hệ thống tri thức người học cần trao đổi bởi vì quá trình dạy học không thể diễn ra một chiều vì: “Quá trình dạy học là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học tự giác, tích cực chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của mình nhằm thực hiện nhiệm vụ dạy học.” [31;139] Từ khái niệm này ta thấy trong quá trình dạy học, hoạt động dạy và hoạt động học liên hệ mật thiết với nhau, diễn ra đồng thời và phối hợp chặt chẽ, tạo nên sự cộng hưởng của hoạt động dạy và hoạt động học, từ đó tạo nên hiệu quả cho quá trình dạy học. Học trước hết là nhận thức, để nhận thức được vấn đề người học cần trao đổi với thầy cô; bạn bè để hiểu đúng bản chất vấn đề. Trong quá trình dạy học người thầy cần thông tin ngược từ phía học trò như đặt câu hỏi phát vấn, kiểm tra. Người học phải trả lời các câu hỏi; trình bày vấn đề; quá trình này giúp cho người dạy đánh giá được mức độ nhận thức của học sinh. Trong quá trình dạy học, người học chủ động đặt câu hỏi trao đổi với người dạy từ đó giúp người học hiểu bản chất vấn đề nhận thức đúng vấn đề. Nhận thức được thể hiện trong việc trao giữa người học với nhau qua các phương thức như học nhóm hoặc hai người trao đổi về một vấn đề. Trường hợp này thường diễn ra khi người học chưa hiểu hoặc hiểu chưa đầy đủ, người học có thể trao đổi với bạn giỏi hơn mình, tranh luận vấn đề với bạn học, những người bạn đó có thể giảng giải lại cho mình giúp người học nhận thức đúng vấn đề. Để nhận thức người học cần phải có tư duy suy luận đó là cách suy nghĩ đúng đắn trong việc theo đuổi với tri thức thích hợp, tin cậy của nhân loại. Tư duy suy luận giúp cho học sinh có khả năng thu thập thông tin liên quan. Qua phân loại một cách hiệu quả và sáng tạo những thông tin này; rồi từ đó suy luận có lô gíc để đi đến những kết luận đáng tin cậy. Tư duy suy luận giúp học sinh có thể giải quyết những vấn đề tương tự (từ một công thức có thể áp dụng để giải nhiều bài tập khác nhau). Như vậy tư duy suy luận giúp người học nhận thức vấn đề để nhận thức đầy đủ hiểu bản chất vấn đề người học cần phải ứng dụng vào đời sống thực tiễn. Việc ứng dụng vào thực tiễn và thông qua thực tiễn giúp cho người học kiểm chứng lí thuyết, chứng minh lí thuyết là hoàn toàn đúng. Trong quá trình nhận thức nhiều khi 9 Như vậy theo thuyết kiến tạo thì thông qua việc hướng dẫn, điều khiển của giáo viên, học sinh phải tự khám phá ra tri thức, thực hiện những nhiệm vụ học tập từ đó kiến tạo tri thức cho bản thân. Tri thức được kiến tạo một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức chứ không phải được tiếp nhận một cách thụ động từ môi trường bên ngoài. 7.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng học tập của học sinh: 7.3.1. Vai trò của giáo viên bộ môn Khi nhắc đến hoạt động học tập của học sinh thì không thể tách biệt giữa dạy và học. Để học tập được người học phải cần đến vai trò của giáo viên. Theo điều 30 Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học quy định: “Giáo viên trường trung học là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, gồm: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên bộ môn, giáo viên làm công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (bí thư, phó bí thư hoặc trợ lý thanh niên, cố vấn Đoàn), giáo viên làm tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (đối với trường trung học có cấp tiểu học hoặc cấp THCS), giáo viên làm công tác tư vấn cho học sinh.”[5;17] Theo quy định như trên thì quan niệm về giáo viên là một khái niệm rộng mà ở đề tài này chúng tôi chỉ xét vai trò của giáo viên trực tiếp tham gia quản lý hoạt động học tập của học sinh gồm giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm. Theo điều 31 mục a Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học thì giáo viện bộ môn có những nhiệm vụ như sau: “Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục, kế hoạch dạy học của nhà trường theo chế độ làm việc của giáo viên do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giáo dục; tham gia nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng.”[5;17] Tại mục e của điều 31 quy định giáo viên bộ môn phải: “Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học sinh, Đoàn Thanh niên Cộng sản 11
File đính kèm:
- sang_kien_kinh_nghiem_bien_phap_quan_ly_hoat_dong_hoc_tap_cu.doc
- Bìa Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh Trung học phổ thông khu v.docx